Bài thơ chính là lời khẳng định quyền độc lập của dân tộc, chủ quyền của đất nước và thể hiện quyết tâm của toàn dân tộc trong việc bảo vệ nền độc lập dân tộc. Hai câu đầu khẳng định điều mà sách trời đã ghi rõ: "Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở" Câu thơ tưởng chừng như đơn giản nhưng chứa đựng một lời tuyên bố hùng hồn.
Sông núi nước Nam, vua Nam ở, Giới phận đó đã được định rõ ràng ở sách trời. Cớ sao kẻ thù lại dám đến xâm phạm, Chúng mày nhất định sẽ nhìn thấy việc chuốc lấy bại vong. - Dịch thơ: Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc giữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ. (Theo Lê Thước - Nam Trân dịch)
Bài Thơ Yêu Mẹ Lắm. Sự Tích Bài Thơ Lá Diêu Bông. Giới Thiệu Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ. Bài Thơ Mẹ Gà Ấp Ủ. Bài Thơ Mưa Của Tác Giả Trần Đăng Khoa. Bài Thơ Sông Núi Nước Nam Lớp 7. Bài Thơ Lớp 12 Sóng Bắt Đầu Từ Gió. Tìm Bài Thơ Tết Đang Vào Nhà. Pbcn Về Bài Thơ
Phân tích bài thơ "Mới ra tù tập leo núi" của Hồ Chí Minh Dehoctot.edu.vn xin giới thiệu tới các em học sinh và quý thầy cô giáo bài văn mẫu Phân tích bài thơ Mới ra tù tập leo núi của Hồ Chí Minh.
36, Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam) của Lý Thường Kiệt. 37, Nhân dịp kỷ niệm 520 năm ngày mất của đại danh hào Nguyễn Trãi, trong bài "Nguyễn Trãi - người anh hùng dân tộc", Thủ tướng Phạm Văn Đồng có viết: "Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn
Đề xuất 2 phương án. Hiện nước ta được phân thành 6 vùng kinh tế - xã hội gồm vùng Trung du và Miền núi phía Bắc (14 tỉnh), vùng Đồng bằng sông Hồng (11 tỉnh, thành phố), vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (14 tỉnh, thành phố), vùng Tây Nguyên (5 tỉnh), vùng Đông
XPUlw. Bài văn mẫu Phân tích bài Sông núi nước Nam dưới đây sẽ giúp các em thấy được giá trị tuyên ngôn của tác phẩm khi khẳng định chủ quyền, sức mạnh chính nghĩa của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Bài viết liên quan Dàn ý phân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt Cảm nhận về lòng yêu nước qua Sông núi nước Nam và Phó giá về kinh Qua hai bài thơ Sông núi nước Nam và Phò giá về kinh, chứng minh nhận định... Truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc qua Sông núi nước Nam Dàn ý cảm nghĩ về bài Sông núi nước Nam Đề bài Phân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường KiệtMục Lục bài viếtI. Dàn ýII. Bài văn mẫu Phân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt I. Dàn ý Phân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt Chuẩn1. Mở bài Bài thơ thần" Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt là một bài thơ bất hủ của non sông, gieo vào lòng người những cảm xúc thiêng liêng khó Thân bài- Khẳng định hùng hồn về chủ quyền lãnh thổ của dân tộc ta+ Sông núi của nước Nam, của nhân dân Đại Việt+ Nước Nam có vua Nam đứng đầu, cai trị- Ranh giới ấy đã được định sẵn, có sách trời chứng giám và chấp thuận...Còn tiếp>> Xem chi tiết Dàn ý Phân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt tại đây. II. Bài văn mẫu Phân tích bài Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt ChuẩnNền văn học yêu nước của nước ta được phát triển qua nhiều thời kỳ và được biểu hiện bởi muôn màu, muôn vẻ. Đó là những truyền thuyết về cội nguồn dân tộc, là những câu ca dao về tình yêu quê hương, đất nước, là những truyện ngắn thấm đẫm tinh thần cách mạng, quyết chí đấu tranh vì tự do dân tộc. Trong suốt chiều dài lịch sử văn học ấy, không thể không nhắc đến thơ ca trung đại với những áng thơ bất hủ của non sông, gieo vào lòng người những cảm xúc thiêng liêng khó tả. Bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt là một bài thơ như thế."Sông núi nước Nam vua Nam ởRành rành định phận tại sách trờiCớ sao lũ giặc sang xâm phạmChúng bay sẽ bị đánh tơi bời"Mở đầu bài thơ, tác giả khẳng định hùng hồn về chủ quyền, ranh giới lãnh thổ của dân tộc ta"Sông núi nước Nam vua Nam ở"Núi sông, đất trời nước Việt là của con dân Đại Việt, do người dân Đại Việt làm chủ, quyết định. Đó là điều tất yếu, điều mà ai cũng phải công nhận và tuân theo. Ranh giới ấy đã được định sẵn, có sách trời chứng giám và chấp thuận"Rành rành định phận tại sách trời"Bằng ý thức mạnh mẽ và lòng tự tôn dân tộc, tác giả đã khẳng khái cất lên tiếng thơ hào sảng khẳng định chắc chắn về lãnh thổ nước ta. Lãnh thổ ấy có từ bao đời, người Việt đã cùng nhau chung sống, bảo vệ và gây dựng lên phong tục, văn hoá mang bản sắc của mình. Trời cao đã chứng giám cho chủ quyền thiêng liêng ấy, nền chủ quyền được ghi lại "sách trời", đó là chân lí không ai có thể phủ nhận, không ai có thể xâm phạm. Nước Nam có quyền được hưởng hoà bình và sống trong cảnh an yên. Nhưng lũ giặc ngạo mạn lại ngang nhiên chớp đi quyền tự do ấy, chúng bành trướng lãnh thổ khiến nhân dân không khỏi phẫn uất, căm thù tội ác ấy " Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm"Hai tiếng "Cớ sao?" ấy là lời thắc mắc cũng là lời định tội rõ ràng cho hành vi ngang ngược của chúng. Quân giặc gạt bỏ đi những đạo lý hiển nhiên, "rành rành", chúng xâm phạm đến đất Việt cũng là phạm đến lẽ trời, luật người. Đó là tội ác "không thể dung tha", cướp đi sự sống của người khác là hành động tàn nhẫn, cướp đi dân tộc, quê hương họ là hành động phi nghĩa. Cậy thế mạnh mà làm càn là quân bạo ngược, ngang tàng. Những hành động và ý nghĩ của chúng đều đáng bị lên án. Quy luật tự nhiên "Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo" một lần nữa được đưa vào văn học như một sự khẳng định về điều tất yếu của những kẻ gian dối, làm điều ác nhũng nhiễu nhân dân, xâm phạm dân tộc" Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời"Lời cảnh tỉnh gửi đến bọn tàn quân hung bạo kia, rồi các người cũng sẽ bị trừng trị đích đáng. Chưa bao giờ tội ác có thể ngang nhiên hoành hành và tồn tại lâu dài cả, quân sĩ và nhân dân nước Nam sẽ cùng nhau một lòng dẹp tan. Đó là một cái kết đích đáng mà các ngươi phải nhận lấy, những kẻ coi thường đạo lý, vô lương tâm, vô nhân cách rồi sẽ bị trừng trị mà sông Như Nguyệt nơi đền thờ hai vị giang thần, Lý Thường Kiệt đã dõng dạc cất lên bài thơ "Nam quốc Sơn hà" vang dội núi sông. Mỗi lời cất lên là tiếng lòng của muôn vạn người hướng về dân tộc, mỗi chữ viết ra chứa chan một lòng yêu nước khôn nguôi và nỗi căm thù giặc sâu sắc. Tiếng thơ khơi dậy khơi dậy lòng yêu nước thiết tha, tinh thần tự hào dân tộc mạnh mẽ, cổ vũ cho ý chí quyết tâm của binh sĩ. Tiếng thơ đanh thép ấy khiến cho quân giặc phải nao núng, ý chí bị lung lay, nhuệ khí suy sụp. Chúng hoảng loạn, khiếp sợ, nhục nhã đến đớn hèn. Cũng từ ấy mà quân ta giành được những chiến trận hiển hách, thắng lợi trong vinh quang và tự hào vô thơ "Nam quốc sơn hà" qua bao thế kỷ vẫn còn nguyên giá trị. Mỗi lần đọc bài thơ trong em lại khôn nguôi nỗi tự hào vì những trang sử vẻ vang của dân tộc, thôi thúc em học tập, rèn luyện để sau này có thể trở thành người công dân tốt xây dựng quê hương đất nước mình xứng đáng với những hy sinh của thế hệ cha ông núi nước Nam có ý nghĩa như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam, tìm hiểu về nội dung và giá trị của bài thơ, bên cạnh bài Phân tích bài thơ Sông núi nước Nam, các em có thể tham khảo thêm Soạn bài Sông núi nước Nam, Cảm nghĩ về bài Sông núi nước Nam, Truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc qua Sông núi nước Nam, Qua hai bài thơ Sông núi nước Nam và Phò giá về kinh, chứng minh nhận định...
Đề bài Phân tích bài Sông núi nước Nam. Ngữ văn 7 Bài làm Cùng với tinh thần nhân đạo thì yêu nước là chủ đề lớn của nền văn học Việt Nam. Nam quốc sơn hà là một trong những áng văn chương kiệt tác của văn học thời Lí – Trần. Nó là tác phẩm kết tinh được hào khí thời đại, cảm xúc của muôn trái tim, vì thế, nó tiêu biểu cho tinh thần độc lập, khí phách anh hùng và khát vọng lớn lao của dân tộc trong buổi đầu xây dựng một quốc gia phong kiến độc lập. Bài thơ để lại trong lòng người đọc ấn tượng sâu sắc. Sông núi nước Nam là một bài thơ chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Nguyên tắc như sau Nam quốc sơn hà Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Dịch thành Sông núi nước Nam Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng bay nhất định phải tan vỡ. Theo Lê Thước – Nam Trân dịch Nam Quốc Sơn Hà – Lý Thường Kiệt Tương truyền rằng, trong cuộc kháng chiến chống Tống đời nhà Lí, một đêm tối trên phòng tuyến Như Nguyệt, từ trong đền thờ hai thần Trương Hồng và Trương Hát hai vị tướng giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông Như Nguyệt, bài thơ đã ngân vang lên Vì thế người ta gọi bài thơ này là thơ thần. Nhưng dù là do thần linh hay con người đọc lên thì bài thơ vẫn là khát vọng và khí phách Đại Việt. Ý tưởng bảo vệ độc lập, kiên quyết chống giặc ngoại xâm được diễn đạt trực tiếp qua một mạch lập luận khá chặt chẽ và biện chứng. Mở đầu bài thơ là lời tuyên bố đanh thép về chủ quyền đất nước Nam quốc sơn hà Nam đế cư Câu thơ 7 tiếng tạo thành hai vế đối xứng nhau nhịp nhàng Nam quốc sơn hà – Nam đế cư. Đặc biệt, cách dùng chữ của tác giả bài thư thể hiện rất “đắt” ý tưởng và cảm xúc thơ. Hai từ Nam quốc và Nam đế có thể coi là nhãn tự mắt thần của câu thơ và của cả bài thơ. Trong tư tưởng của bọn cầm quyền phong kiến Trung Quốc xưa nay-chỉ có Bắc đế, chứ không thế có Nam đế hoàng đế Trung Hoa là vị hoàng đế duy nhất của thiên hạ, thay trời trị vì thiên hạ. Trở lại với nội dung tư tưởng bao hàm qua ngôn từ của câu thơ. Nam quốc không chỉ có nghĩa là nước Nam, mà Nam quốc còn là vị thế của nước Nam ta, đất nước ấy dù nhỏ bé nhưng tồn tại độc lập, sánh vai ngang hàng với một cường quốc lớn ở phương Bắc như Trung Quốc. Hơn nữa, đất nước ấy lại có chủ quyền, có một vị hoàng đế Nam đế. Vị hoàng đế nước Nam cũng có uy quyền không kém gì các hoàng đế Trung Hoa, cũng là một bậc đế vương, do đấng tối cao phong tước, chia cho quyền cai quản một vùng đất riêng mà lập nên giang sơn xã tắc của mình Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là sự thật hiển nhiên. Không ai có quyền phủ định? Bởi sự phân định núi sông, bờ cõi đâu phải là ý muốn chủ quan của một người hay một số người, mà do “Trời” định đoạt. Bản đồ ranh giới lãnh thổ của các quốc gia đã in dấu ấn trong sách trời Ai có thể thay đổi được? Tác giả bài thơ đã đưa ra những lí lẽ thật xác đáng. Qua cách lập luận, nổi lên một quan niệm, một chân lí thiêng liêng và cao cả chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt. Vẫn những lí lẽ đanh thép ấy, tác giả khẳng định tiếp Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Thật là một khí phách kiên cường! Thay mặt cả dân tộc, nhà thơ đã lớn tiếng cảnh cáo bọn giặc xâm lược Chúng bay phạm vào bờ cõi này, tức là chúng bay đã phạm vào sách trời; mà phạm vào sách trời, tức là làm trái với đạo lí trở thành kẻ đại nghịch vô đạo nghịch lỗ, lẽ nào Trời đất dung tha. Mặt khác chúng bay phạm vào bờ cõi này tức là phạm vào chủ quyền thiêng liêng của một dân tộc, nhất là dân tộc đó lại là một dân tộc có bản lĩnh kiên cường, có ý chí độc lập mạnh mẽ, vậy thì, sự thất bại sẽ là điều không thể tránh khỏi, thậm chí còn bị đánh cho tơi bời thủ bại hư. Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam lại có một khí phách hào hùng như thế! Cảm xúc thơ thật mãnh liệt, tạo nên chất trữ tình chính luận- một đặc điểm của thơ ca thời Lí – Trần, khiến người đọc rưng rưng! Bài thơ xứng đáng là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta, và ngàn đời sau, bài thơ vẫn là hồn thiêng sông núi vọng về.
Được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam, bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" của chủ tướng Lí Thường Kiệt đã trở thành một áng thơ văn bất hủ, không chỉ khẳng định được vấn đề về lãnh thổ, chủ quyền, độc lập của dân tộc Việt Nam, mà bài thơ còn thể hiện được tính thần lực, tự tôn dân tộc mãnh mẽ của vị chủ tướng tài ba Lí Thường Kiệt cũng như những người dân Việt Nam nói chung. Bài thơ cũng là lời khẳng định tuyên bố đanh thép của tác giả đối với những kẻ có ý định xâm lăng vào lãnh thổ ấy, xâm phạm vào lòng tự tôn của một dân tộc anh hùng . Trong cuộc chiến đấu chống quân Tống của quân dân Đại Việt, chủ tướng Lí Thường Kiệt đã đọc bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" ở đền thờ hai vị thần Trương Hống, Trương Hát - Là hai vị thần của sông Như Nguyệt. Khi bài thơ thần này vang lên vào thời điểm đêm khuya, lại được vọng ra hùng tráng, đanh thép từ một ngôi đền thiêng liêng nên đã làm cho quân Tống vô cùng khiếp sợ, chúng đã vô cùng hoảng loạn, lo lắng, nhuệ khí của quân giặc bị suy giảm một cách nhanh chóng. Cũng nhờ đó mà quân dân ta có thể tạo ra một chiến thắng lừng lẫy, oai hùng sau đó. Mở đầu bài thơ, tác giả Lí Thường Kiệt đã khẳng định một cách chắc chắn, mạnh mẽ về vấn đề chủ quyền, ranh giới lãnh thổ của dân tộc Đại Việt, đó là ranh giới đã được định sẵn, là nơi sinh sống của người dân Đại Việt. Lời khẳng định này không phải chỉ là lời khẳng định của tác giả, mà tác giả còn đưa ra những luận chứng sắc sảo, đó là bởi "sách trời" quy định. Tức sự độc lập,chủ quyền về lãnh thổ ấy được trời đất quy định, chứng giám. Một sự thật hiển nhiên mà không một ai có thể chối cãi được "Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời" Sông núi nước Nam là những vật thuộc quyền sở hữu của người Nam, cũng là những hình ảnh biểu tượng không chỉ cho ranh giới, chủ quyền của người nam mà còn khẳng định một cách chắc chắn quyền sở hữu của "sông núi" ấy là của người Nam. Chúng ta cũng có thể thấy đây là lần đầu tiên trong một tác phẩm thơ văn mà vấn đề chủ quyền dân tộc được khẳng định mạnh mẽ, hào sảng đến như vậy. Không chỉ là dân tộc có chủ quyền, có lãnh thổ mà dân tộc ấy còn có người đứng đầu, người quản lí, làm chủ người dân của quốc gia ấy, đó chính là "vua Nam". Chủ quyền ấy, lãnh thổ cương vực ấy không phải do người Nam tự quyết định lựa chọn cho mình, người dân nơi ấy chỉ sinh sống, làm ăn sinh hoạt từ rất lâu đời, do sự định phận của "sách trời", đó là đấng cao quý vì vậy mọi sự quy định, chỉ dẫn của "trời" đều rất có giá trị, đều rất đáng trân trọng. "Rành rành" là dùng để chỉ sự hiển hiện, tất yếu mà ai cũng có thể nhận biết cũng phân biệt được. "Rành rành định phận ở sách trời" có nghĩa vùng lãnh thổ ấy, chủ quyền ấy của người Nam đã được sách trời ghi chép rõ ràng, dù có muốn cũng không thể chối cãi, phủ định. Như vậy, ở hai câu thơ đầu, tác giả Lí Thường Kiệt không chỉ đưa ra luận điểm là lời khẳng định hào sảng, chắc chắn về vùng lãnh thổ, ranh giới quốc gia và chủ quyền, quyền làm chủ của nhân dân Đại Việt với quốc gia, dân tộc mình mà tác gỉ còn rất tỉnh táo, sắc sảo khi đưa ra những luận cứ đúng đắn, giàu sức thuyết phục mà còn đưa ra một sự thật mà không một kẻ nào, một thế lực nào có thể phủ định, bác bỏ được nó. Giọng văn hào hùng, mạnh mẽ nhưng không giấu được niềm tự hào của bản thân Lí Thường Kiệt về chủ quyền của dân tộc mình. Từ sự khẳng định mạnh mẽ vấn đề chủ quyền của dân tộc Đại Việt, Lí Thường Kiệt đã lớn tiếng khẳng định, cũng là lời cảnh cáo đến kẻ thù, đó chính là cái kết cục đầy bi thảm mà chúng sẽ phải đón nhận nếu biết nhưng vẫn cố tình thực hiện hành động xâm lăng lãnh thổ, gây đau khổ cho nhân dân Đại Việt "Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời" Sự thật hiển nhiên rằng, "Sông núi nước Nam" là do người Nam ở, người Nam làm chủ. Nhưng lũ giặc không hề màng đến sự quy định mang tính tất yếu ấy, chúng cố tình xâm phạm Đại Việt cũng là xúc phạm đến sự tôn nghiêm của đạo lí, của luật trời "Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm" hành động ngông cuồng, phi nghĩa này của bọn chúng thật đáng bị phê phán, thậm chí đáng để trừng phạt bằng những hình thức thích đáng nhất. Và ở trong bài thơ này, tác giả Lí Thường Kiệt cũng đã đanh thép khẳng định cái kết cục đầy bi đát, ê chề cho lũ cướp nước, coi thường đạo lí "Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời". Với tất cả sức mạnh cũng như lòng tự tôn, tính chính nghĩa của dân tộc Đại Việt thì lũ xâm lăng chỉ có một kết cục duy nhất, một kết quả không thể tránh khỏi "bị đánh cho tơi bời". Như vậy, bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" là một bài thơ, một bài thơ mang chính chính luận rõ ràng, sâu sắc, một bản tuyên ngôn hùng hồn, mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Bài thơ thể hiện lòng tự hào của người Việt Nam về chủ quyền thiêng liêng của dân tộc, về sức mạnh vĩ đại của người dân trong công cuộc đánh đuổi ngoại xâm.
phân tích bài sông núi nước nam